LÝ LỊCH DI TÍCH MỘ NGUYỄN VỊNH
(Xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi)
I/ TÊN GỌI DI TÍCH: Di tích mộ Nguyễn Vịnh
II/ ĐỊA ĐIỂM PHẦN BỐ DI TÍCH- ĐƯỜNG ĐI ĐẾN:
Mộ Nguyễn Vịnh tọa lạc tại xóm An Thành, thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Cách thành phố Quảng Ngãi 14km về hướng tây Bắc.
Đến di tích mộ Nguyễn Vịnh khách tham quan có thể đi bằng nhiều phương tiện ô tô, xe máy. Từ trung tâm thành phố Quảng Ngãi theo hướng quốc lộ 1A về hướng bắc 2 km đến ngã tư Thị Trấn Sơn Tịnh, rẽ lên hướng Tây theo đường 5B đi Sơn Hà khoảng 12 km đến tượng đài chiến thắng Ba Gia. Sau đó rẽ trái theo đường liên xã Tịnh Sơn- Tịnh Minh khoảng 2 km là đến di tích.
III/ SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ:
Nói đến phong trào Cần Vương ở Quảng Ngãi là nói đến Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan, Thái Thú, Trần Du,… đó là những lãnh tụ tiêu biểu trong phong trào chống pháp của nhân dân Quảng Ngãi; song cũng không thể không nhắc đến Nguyễn Vịnh một chí sĩ đầy nhiệt huyết, một tướng lĩnh trung kiên đã có những đóng góp đáng kể vào cuộc khởi nghĩa chống pháp của ông Thái Thú năm 1894 nói riêng cũng như phong trào Cần Vương chống Pháp ở Quảng Ngãi nói chung.
Nguyễn Vịnh sinh năm 1840 tại làng An Phú nay thuộc thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh. Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng với tư chất thông minh, Nguyễn Vịnh học rất giỏi, ông không những giỏi văn mà còn giỏi võ nghệ. Theo gia phả họ Nguyễn và trí nhớ của các cụ già làng An Phú thì thuở thiếu thời, Nguyễn Vịnh thường ham mê đọc sách, hiểu biết rất nhiều về địa lý, nhân dân, nhờ đó mà ông có thể đoán chính xác những điều sắp xảy ra với bản thân mình, người thời ấy gọi là tài “nham độn”. Còn trong học võ Nguyễn Vịnh rất chịu khó và bền bỉ luyện tập, nên ông rất giỏi các đường siêu, côn, quyền, bộ,… Ông còn thường xuyên dạy và luyện tập võ nghệ cho các em trai của mình là các ông: Nguyễn Đảng, Nguyễn Điển, Nguyễn Nhờ và em rể là Bạch Văn Vĩnh. Chính nhờ sự say mê với việc học võ nghệ nên năm 1888 Nguyễn Vịnh đi thi ở kinh đô Huế và ông đã đậu cử nhân võ. Từ đó dân làng thường gọi ông là ông Cử Vịnh.
Bình sinh Nguyễn Vịnh là người có đức tính khảng khái, lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến cảnh bóc lột tàn tệ và hà khắc của chế độ phong kiến thực dân. Cho nên sau khi thi đậu cử nhân ông đã không ra làm quan, mà trở về hương kết thân với nhiều sĩ phu yêu nước và tham gia vào Nghĩa Hội Cần Vương chống pháp trong tỉnh.
Sau khi cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Bá Loan thất bại vào năm 1888, Nguyễn Vịnh cùng Thái Thú, Tôn Đính, Bạch Văn Vĩnh tiếp tục bí mật tập hợp lực lượng yêu nước trong tỉnh và liên kết với phong trào Cần Vương ở Nghệ Tĩnh do Phan Đình Phùng lãnh đạo để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chống pháp và tay sai.
Để chuẩn bị tiến hành một cuộc khởi nghĩa, Nguyễn Vịnh, Tôn Đính, Bạch Văn Vĩnh, Thái Thú- thủ lĩnh của phong trào đã cùng nhau mở cuộc vận động bí mật, tập hợp những người giàu lòng yêu nước, căm thù giặc pháp, có quyết tâm chống Pháp, họ chọn lựa những người biết võ nghệ vào nghĩa hội, tổ chức thành những đội quân làm lực lượng xung kích cho cuộc khởi nghĩa. Mặt khác, rút kinh nghiệm chiến thuật “nội công ngoại kích” của cuộc khởi nghĩa Lê Trung Đình năm 1985, các ông Nguyễn Vịnh, thái thú còn chủ trương xúc tiến tổ chức cơ sở bí mật trong hàng ngủ quân đội triều đình nhà Nguyễn, nhất là lính tập hay còn gọi là lính khố xanh được tuyên truyền giác ngộ làm quân nội ứng chuẩn bị cho kế hoạch “nội công ngoại kích” (nghĩa là trong đánh ra ngoài đánh vào) phối hợp cùng nhau tiêu diệt địch. Lực lượng cơ sở bí mật trong hàng ngũ quân đội triều đình nhà Nguyễn được gọi là quân “Bạch lộ”.
Để có thể tập hợp lực lượng đông đảo quần chúng tham gia khởi nghĩa, các tướng lĩnh của phong trào còn phân công về các làng, xã để xây dựng lực lượng. Nguyễn Vịnh lúc này được cử làm phó tướng và được giao trọng trách xây dựng lực lượng các xã khu vực Tây Sông Trà, Nguyễn Vịnh còn trở về quê cùng với các em trai của mình là Nguyễn Đảng, Nguyễn Điển, Nguyễn Nhờ liên hệ với bạn thân chiêu tập những người yêu nước trong làng và làng lân cận thành những đội nghĩa binh, được trang bị vũ khí và luyện tập võ nghệ, số quân chiêu tập lên đến 500 người. Bên cạnh việc chiêu tập nghĩa quân, Nguyễn Vịnh còn kêu gọi nhân dân quyên góp lương thực, thực phẩm như lúa gạo, khoai, sắn… rèn đúc vũ khí phục vụ cho cuộc khởi nghĩa. Cũng trong thời gian này cùng với cuộc vận động tập hợp của ông Nguyễn Vịnh, các ông Tôn Đính, Bạch Văn Vĩnh cũng tập hợp được một lực lượng lớn nghĩa quân từ các địa phương trong tỉnh chuẩn bị cho khởi nghĩa.
Sau một thời gian chuẩn bị hết sức tích cực về lực lượng và tổ chức đêm ngày 07 rạng ngày 08/12/năm Giáp Ngọ(1894) cuộc khởi nghĩa chống Pháp do ông Thái Thú lãnh đạo đã nổ ra.
Theo kế hoạch quân khởi nghĩa chia làm hai cánh: Cánh quân phía đông do ông Thái Thú chỉ huy sẽ phối hợp với quân “Bạch Lộ” đánh chiếm đồn Pháp đóng ở Cổ Lũy.
Sau đó sẽ kéo lên chi viện cho cánh quân do ông Nguyễn Vịnh chỉ huy đánh chiếm tỉnh thành Quảng Ngãi. Cánh quân phía Tây do Nguyễn Vịnh- phó tướng chỉ huy sẽ phối hợp với quân “Bạch Lộ” trong tạo thành thế “nội công ngoại kích” đánh chiếm thành Quảng Ngãi, sau khi chiếm được tỉnh thành sẽ phát động khởi nghĩa ở các địa phương trong tỉnh.
Đúng như kế hoạch đã định, đêm mùng 07 rạng ngày 08 tháng 12 năm 1894 cánh quân phía Đông do ông Thái Thú chỉ huy từ phố Thu Xà tiến đánh đồn Cổ Lũy, nghĩa quân đã phối hợp với quân “Bạch Lộ” nhanh chóng tiêu diệt được đồn Cổ Lũy và giết chết chủ sự đồn Thương Chánh người Pháp tên là REGNARD, lấy đầu tên này làm lễ biểu dương lực lượng và động viên tướng sĩ. Ngay sau khi tiêu diệt được đồn Cổ Lũy, Thái Thú đã cùng với nghĩa quân gấp rút kéo quân lên chi viện cho cánh quân Nguyễn Vịnh cùng nhau đánh chiếm tỉnh thành. Nhưng lúc này tại tỉnh thành cánh quân phía Tây dưới sự chỉ huy của Nguyễn Vịnh đã ém quân phục ở cửa Tây thành chờ bắt liên lạc với quân “Bạch lộ” trong thành nhưng do bị lộ Nguyễn Vịnh không bắt liên lạc được với quân “Bạch Lộ” nên kế hoạch không thực hiện được. trong khi đó cánh quân phía Đông từ Cổ Lũy rầm rộ phất cờ, gióng trống kéo lên tỉnh thành, khi nghĩa quân đến cửa Đông thành thì quân giữ thành do án sát Tôn Thất Lữ chỉ huy đã được báo động canh giữ nghiêm ngặt, chúng chủ động bắn vào nghĩa quân làm hàng trăm nghĩa quân đi đầu trúng đạn hy sinh. Vậy là kế hoạch “nội công ngoại kích” không thể thực hiện được như đã định. Để bảo toàn lực lượng, cả hai cánh quân của Thái Thú và Nguyễn Vịnh điều phải rút quân về vùng núi An Đại thuộc phủ Tư Nghĩa cách tỉnh thành Quảng Ngãi 7 km về phía tây Nam.
Sáng ngày 08 tháng 12 năm 1894 án sát Tôn Thất Lữ cho quân đuổi theo nghĩa quân và tổ chức vây hãm vùng núi An Đại. Sau 2 ngày nghĩa quân bị bao vây chặt, mặt dù nghĩa quân chiến đấu chống trả quyết liệt nhưng do lực lượng địch quá mạnh, lương thực cạn dần nên nghĩa quân bị tổn thất nặng và tan rã. Nguyễn Vịnh, Thái Thú và một số tướng lĩnh khác đều bị bắt.
Sau khi bắt được Nguyễn Vịnh, địch ra sức dụ dỗ và mua chuộc nhưng ông vẫn hiên ngang, khảng khái nhìn thẳng vào mặt kẻ thù mà nói: “đáng lẽ tao giết bọn bay, chứ bọn bay không thể giết được tao. Tao chịu chết là để dân làng tao đỡ khổ, đồng bào tao sẽ tiêu diệt bọn bay”. Biết không thể khuất phục được Nguyễn Vịnh chính quyền thực dân đã xử chém ông tại bãi sông Trà Khúc vào ngày 13 tháng chạp năm Giáp Ngọ, tức tháng giêng năm 1894. Sau khi Nguyễn Vịnh hy sinh, thi hài ông được nhân dân địa phương đem về chôn cất tại làng An Phú nay thuộc xóm An Thành, thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh.
Cuộc khởi nghĩa của ông Thái Thú năm 1894 mà Nguyễn Vịnh là một trong những người lãnh đạo và chỉ huy chủ chốt của cuộc khởi nghĩa. Tuy cuộc khởi nghĩa không thành công nhưng đã nêu cao lòng yêu nước, căm thù chế độ thực dân Pháp và tay sai. Cuộc khởi nghĩa còn để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho các phong trào chống Pháp cứu nước sau này, đó là việc huy động lực lượng đông đảo quần chúng tham gia, hưởng ứng khởi nghĩa và việc vận động được lực lượng trong hàng ngũ kẻ thù, phục vụ cho chiến thuật “nội công ngoại kích”. Có thể nói cuộc khởi nghĩa do Thái Thú – Nguyễn Vịnh lãnh đạo là bài ca hùng tráng trong phong trào Cần Vương kháng Pháp cuối thế kỷ XIX của nhân dân Quảng Ngãi.
Để ghi nhớ công lao to lớn của Nguyễn Vịnh – một chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần Vương, người lãnh đạo trung kiên của cuộc khởi nghĩa Thái Thú, sau khi cách mạng tháng tám thành công năm 1945, chính quyền cách mạng đã lấy tên ông đặt tên cho một làng ở Sơn Tịnh đó là làng An Phú, quê hương của ông.
IV/ LOẠI DI TÍCH:
Mộ nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Vịnh thuộc loại di tích lịch sử lưu niệm danh nhân.
V/ KHẢO TẢ DI TÍCH:
Mộ Nguyễn Vịnh tọa lạc tại gò Miễu , xóm An Thành, thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mộ có diện tích 100m2, phía Bắc giáp mương nội đồng, phía Nam giáp đường liên thôn, phía Đông giáp mương nội đồng, phía Tây giáp khu sinh hoạt của xã.
Sau khi Nguyễn Vịnh hy sinh, thi hài ông được nhân dân địa phương đêm về chôn cất tại Gò Giàn, làng An Phú. Hơn 100 năm qua mộ Nguyễn Vịnh vẫn chỉ là ngôi mộ đất chưa được xây dựng. năm 1995 con cháu dòng họ đã cùng nhau dựng một tấm bia để ghi nhớ công lao của một người vì nước quên mình.
Hiện trạng mộ Nguyễn Vịnh nằm trong khu vực đồng ngập nước ngập nền thể theo nguyện vọng của con cháu và nhân dân địa phương tháng 6/2001, UBNB xã Tịnh Minh đã di dời về gò Miễu đây là khu đất cao ráo lại gần trung tâm xã, thuận lợi cho con cháu và nhân dân địa phương đến thăm viếng vào ngày giỗ hàng năm.
Hiện nay, vào ngày 13 tháng chạp hàng năm con cháu trong họ tổ chức cúng giỗ ông tại nhà từ đường họ Nguyễn tại thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh.
VI/ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ:
Di tích mộ Nguyễn Vịnh là nơi yên nghỉ của một chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần Vương ở Quảng Ngãi, đã có nhiều đóng góp trong việc vận động, tập hợp và chỉ huy nhân dân đánh chiếm thành Quảng Ngãi trong cuộc khởi nghĩa Thái Thú nói riêng và phong trào đấu tranh kháng Pháp của nhân dân Quảng Ngãi nói chung vào cuối thế kỷ 19.
Việc gìn giữ mộ Nguyễn Vịnh và từng bước tôn tạo, tu bổ, khắc bia ghi lại công tích sự nghiệp của ông nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho nhân dân địa phương, đồng thời qua đó giữ lại một di tích gắn liền với phong trào Cần Vương chống Pháp ở Quảng Ngãi để nhân dân địa phương hàng năm đến chiêm bái, thăm viếng, bày tỏ lòng thành kính tri ân đối với nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn Vịnh.
VII/ TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN DI TÍCH:
Mộ Nguyễn Vịnh nay được di dời lên khu đất cao ráo thuộc Gò Miễu xóm An Thành xong cũng cần phải có kế hoạch bảo vệ, tôn tạo và xây dựng, để nơi đây trở thành điểm thăm viếng của nhân dân trong tỉnh.
VIII/ CÁC PHƯƠNG ÁN BẢO VỆ DI TÍCH:
Việc bảo vệ, tôn tạo và xây dựng mộ Nguyễn Vịnh là một việc làm hết sức cần thiết, đáp ứng nguyện vọng và tình cảm của nhân dân địa phương. Do vậy phương án sắp đến, cần phải xây mộ cho khang trang xứng với tầm vóc và công tích của Nguyễn Vịnh – nơi yên nghỉ của một chí sĩ yêu nước, nơi tưởng niệm của nhân dân địa phương vào dịp giỗ ông hàng năm.
IX/ CƠ SỞ PHÁP LÝ BẢO VỆ DI TÍCH:
Di tích mộ Nguyễn Vịnh từ trước đến nay chưa được lập hồ sơ trình UBND tỉnh ra quyết định bảo vệ. Hiện nay dựa trên cơ sở các tư liệu đã được tập hợp ở hồ sơ này và theo đề nghị của các cơ quan chính quyền địa phương huyện Sơn Tịnh, Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi kính đề nghị UBND tỉnh ra quyết định bảo vệ để có kế hoạch tôn tạo, phát huy giá trị của di tích về lâu dài.
X/ TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1/ Tìm hiểu các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Quảng Ngãi (1885 – 1945) – Bùi Định – Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng và Sở VHTT tỉnh Nghĩa Bình xuất bản năm 1985
2/ Lê Trung Đình và phong trào Cần Vương ở Quảng Ngãi – Sở VHTT tỉnh Quảng Ngãi năm 1997.
3/ Sao sáng Sông Trà – Phạm Hồng Sinh – Sở VHTT tỉnh Khánh Hòa xuất bản.
4/ Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ huyện Tư Nghĩa – Ban chấp hành Đảng bộ huyện Tư Nghĩa 1995
5/ Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Tịnh, tập 1(Ban chấp hành Đảng Bộ huyện Sơn Tịnh 1986
6/ Xuân Thái: chuyện cụ Nguyễn Vịnh – Tập san văn hóa và đời sống, Sở văn hóa Thông tin Quảng Ngãi, số xuân nhâm thân 1992.
7/ Gia phả dòng họ Nguyễn tại xóm An Thành, thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh, huyện Sơn Tịnh.












