LÝ LỊCH DI TÍCH TRƯỜNG LŨY QUẢNG NGÃI
TÊN GỌI: TRƯỜNG LŨY QUẢNG NGÃI
Sử sách Việt Nam thế kỷ XIX, trong đó có Đại Nam Thực Lục, Đại Nam Nhất Thống Chí, Bản triều bạn nghịch liệt truyện từng ghi nhận sự tồn tại của một Trường Lũy ở tỉnh Quảng Ngãi Đồng Khánh Địa Dư Chí còn dành riêng một phần viết về tỉnh Quảng Ngãi như sau:
“Lũy dài Tĩnh Man: Cách phía tây thành tỉnh 23 dặm. Phía bắc giáp địa giới huyện Hà Đông tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp địa giới huyện Bồng Sơn tỉnh Bình Định, dài 177 dặm. Nguyên tả quân Lê Văn Duyệt vâng mệnh xây đắp”.1
Theo biên niên sử (Đại Nam Thực Lục), Trường Lũy được xây dựng từ năm 1819 dưới thời vua Gia Long, ngăn giữa vùng đất thấp với cao nguyên. Bản thân tên gọi chính thức của lũy (Tĩnh Man Trường Lũy – “Lũy dài bình định các bộ tộc”) cũng đã gợi lên vai trò phòng vệ của nó rồi. Còn bộ máy quân sự điều hành lũy được gọi là Sơn Phòng.
Tuy nhiên, qua điều tra khảo cổ học và dân tộc học trên đất Quảng Ngãi, Trường Lũy còn được gọi với những cái tên khác nhau như: Bờ Hào, Bờ Lũy. Do bên cạnh lũy gần như lúc nào cũng hiện diện một con đường cổ nên những người dân còn gọi lũy là Đường cái quan thượng mà những nghiên cứu của dự án Trường Lũy Quảng Ngãi đã phần nào xác định đây chính là hệ thống đường Thiên lý Bắc-Nam trong lịch sử. Nhưng phổ biến trong dân gian vẫn gọi là Trường Lũy.
Dự án nghiên cứu Trường Lũy Quảng Ngãi của viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội phối hợp với viện khoa học xã hội Việt Nam mà Viện Khảo cổ học là đơn vị tham gia trực tiếp tù năm 2005 đến 2010 đã đề nghị trong cuộc họp Báo cáo kết quả nghiên cứu Trường Lũy lần thứ nhất năm 2007 đã đề nghị gọi di tích này theo lối dân gian là Bờ Lũy. Tên gọi này tồn tại trong các báo cáo, bài viết tham dự Hội nghị thông báo Khảo cổ học những năm từ 2006 đến 2009. Nhưng cho đến lần báo cáo khoa học kết quả nghiên cứu lần thứ 3 năm 2010. Với sự nhất trí của Hội nghị, tên gọi Trường Lũy Quảng Ngãi chính thức được dùng. Độ dài của lũy trên địa phận tỉnh Quảng Ngãi là 113 km, toàn tuyến lũy là 127,4 km. Từ nay tên gọi chính thức là Trường Lũy Quảng Ngãi.
Trên toàn tuyến lũy, tư liệu lịch sử còn cho biết coa 115 đồn hay bảo (một cách gọi đồn binh của địa phương), cách nhau chừng 500 đến 1000 mét. Mỗi đồn, bảo này có 10 lính canh giữ. Trên thực tế nghiên cứu đã phát hiện 71 di tích đồn/ bảo, đa phần còn nguyên vẹn, trong đó có những đồn/ bảo lớn như Thiên Xuân thuộc xã Hành Tín Đông huyện Nghĩa Hành, đồn/ bảo Kim Long xã Hành Dũng huyện Nghĩa Hành. Những đồn/ bảo này chắc chắn sẽ có số quân đông hơn nhiều. Đây cũng là một bộ phận quan trọng của Trường Lũy.
Từ đó có thể nhận định: Di tích Trường Lũy Quảng Ngãi là một phức hợp không thể tách rời là: Lũy – Đường cổ - hệ thống Đồn/ Bảo.
2. ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ DI TÍCH
2.1. Các địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có Trường Lũy đi qua:
HUYỆN | XÃ | THÔN/ XÓM | TÊN CŨ |
1.Huyện Trà Bồng | Trà Sơn | Thôn Trung |
|
Thôn Bắc (khu vực tổ 2 và 3) |
| ||
Thôn Đông |
| ||
Thôn Sơn Bàn |
| ||
Thôn Sơn Thành |
| ||
Thị Trấn Trà Xuân | Tổ dân phố I | Thôn Xuân Tây cũ | |
Tổ dân phố II | |||
Tổ dân phố III | Thôn Xuân Đông cũ | ||
Xã Trà Phú | Thôn Phú Long |
| |
Thôn Phú Hòa |
| ||
Thôn Phú An |
| ||
Thôn Phú Tài |
| ||
Xã Trà Bình | Đội 1 đến đội 4 thôn Bình Thanh |
| |
Đội 7 đến đội 5 thôn Bình Tân |
| ||
Xã Trà Tân | Thôn Trường Giang |
| |
Xã Trà Bùi | Thôn Gò |
| |
2. Huyện Sơn Tịnh | Xã Tịnh Hiệp | Thôn Hội Đức |
|
Thôn Vĩnh Tuy |
| ||
Xã Tịnh Đông | Thôn Tân An |
| |
2.3 xã Tịnh Giang | Đội 5 (Xóm Hẻo) |
| |
Thôn Đông Hòa |
| ||
Thôn Phước Thọ |
| ||
3. Huyện Sơn Hà | 2.4 Xã Sơn Hạ | Xóm Ren, Xóm Gò Rùa – Bạch Cu, Xóm Nham – Thôn Đèo gió |
|
4. Huyện Tư Nghĩa | Xã Nghĩa Lâm | Thôn 5 (thôn Gò Đồng Lăng) | Trước cùng thuộc làng Phước Lâm |
Thôn 1 | |||
Thôn 8 | |||
Xã Nghĩa Sơn | Thôn 1 | ||
Xã Nghĩa Thắng | Xóm I, Thôn An Tây |
| |
Thôn Bình Thuận |
| ||
Xóm 4 – Thôn An Tân |
| ||
Xã Nghĩa Thọ | Thôn 2- Xóm Nước Ngọn |
| |
Xóm Cây Trâm |
| ||
Xóm Đèo |
| ||
5. Huyện Minh Long | Xã Long Sơn | Thôn Biều Qua |
|
Xã Long Mai | Thôn Kỳ Hát |
| |
6. Huyện Nghĩa Hành | Xã Hành Dũng | Xóm Đèo (Hố Bà Năm) thôn Trung Mỹ |
|
Thôn Kim Thành Hạ |
| ||
Xã Hành Nhân | Thôn Kim Thành Thượng |
| |
Xóm Bồng Lại – thôn Tân Thành |
| ||
Thôn Đồng Vinh |
| ||
Thôn Trúc Lâm |
| ||
Thôn Tân Lập |
| ||
| Xã Hành Minh | Thôn Long Bàn Nham |
|
Xã Hành Hiện | Thôn Phú Lâm Tây |
| |
Thôn Phú Lâm Đông |
| ||
Xã Hành Tín Tây | Thôn Tân Phú |
| |
Thôn Long Bình |
| ||
Xóm Gò Sơn- thôn Đồng Miếu |
| ||
Thôn Phú thọ |
| ||
Thôn Phú Khương |
| ||
Xã Hành Tín Đông | Thôn Thiên Xuân |
| |
Thôn Nhơn Lộc |
| ||
Thôn Khánh Giang |
| ||
Thôn Trường Lệ |
| ||
7. Huyện Ba Tơ | Xã Ba Động | Thôn Tân Long Hạ |
|
Thôn Hóc Kè |
| ||
Trung Tâm Ba Động |
| ||
Thôn Nam Lân |
| ||
Xã Ba Thành | Khu vực Hồ Bồ (thôn Trường An – Hóc Kè) |
| |
Xã Ba Liên | Thôn Đá Chát (ruộng trũng liêm) |
| |
Tổ 1 thôn Gò Reng (cũ) |
| ||
Xã Ba Khâm | Thôn Hố Sâu |
| |
8. Huyện Đức Phổ | Xã Phổ Nhơn | Khu vực Đèo Đá Líp (thôn Phước Thượng) |
|
Thôn Nhơn Tân |
| ||
Thôn An Sơn |
| ||
Thôn An Điền |
| ||
Xã Phổ Ninh | Thôn Lộ Bàn |
| |
Thôn Thanh Lâm |
| ||
Xã Phổ Hòa | Đập Ông Thọ - núi Chóp Vung - thôn Hiển Văn |
| |
Xã Phổ Cường | Thôn Xuân Thành |
| |
Thôn Thanh Sơn |
|
2.2.1. Huyện Trà Bồng và huyện Sơn Tịnh
2.2.1.1. Xã Trà Sơn và thị trấn Trà xuân huyện Trà Bồng
Điểm cực bắc của lũy là thôn Trung xã Trà Sơn huyện Trà Bồng. từ đây, lũy chạy theo hướng từ tây sang đông, qua thôn Bắc (khu vực tổ 2 và tổ 3),tiếp đó đến thôn Đông xã Trà Sơn. Tại thôn Đông lũy giáp với khu dân cư I và khu dân cư X của thị trấn Trà Xuân. Đến thôn Bắc và thôn Trung xã Trà Sơn lũy là nơi tiếp giáp tổ dân phố I, II, III Thị trấn Trà Xuân lũy có hướng chạy vòng lên đồi Trà Nam, qua tổ 2, rồi tổ 3 thôn Sơn Bàn xã Trà Sơn rồi bắt đầu sang địa bàn xã Trà Phú.
2.2.1.2. Xã Trà Phú huyện Trà Bồng
Đến xã Trà Phú, lũy tiếp đó chạy theo hướng Đông, lần lượt qua các thôn: Phú Hòa, Phú Long, Phú An, Phú Tài, cuối cùng kết thúc xã Trà Phú ở thôn Phú Tài và bắt đầu sang thôn Bình Thanh xã Trà Bình.
2.2.1.3. Xã Trà Bình huyện Trà Bồng và xã Tịnh hiệp huyện Sơn Tịnh
Sang xã Trà Bình, bắt đầu từ Đội 1 thôn Bình Thanh, lũy qua thôn Bình Tân rồi đổi hướng từ Đông – Tây sang Bắc – Nam, đồng thời trở thành ranh giới hai xã Trà Bình và Tịnh Hiệp. phía Tây của lũy là thôn Bình Tân xã Trà Bình còn phía tây là các thôn Hội Đức và thôn Vĩnh Tuy của xã Tịnh Hiệp huyện Sơn Tịnh.
2.2.1.4 Xã Tịnh Đông, xã Tịnh Giang huyện Sơn Tịnh và xã Trà Tân, xã Trà Bùi huyện Trà Bồng
Sau khi là ranh giới giữa hai xã Trà Bình huyện Trà Bồng và Tịnh Hiệp huyện Sơn Tịnh, lũy sang Xã Tịnh Đông. Thôn đầu tiên có dấu tích bờ lũy là thôn Tân An. Khi gần kết thúc thôn Tân An lũy bắt đầu đổi hướng từ Bắc – Nam sang Đông – Tây và chạy qua thôn Trường Giang của xã Trà Tân huyện Trà Bồng. Hết thôn Trường Giang lũy lại chuyển sang hướng Bắc – Nam và chạy qua đội 5 xóm Hẻo thôn Đông Hòa xã Tịnh Giang huyện Sơn Tịnh. Tiếp đó lũy qua thôn Phước Thọ vẫn thuộc xã Tịnh Giang chuyển trở lại hướng Đông – Tây. Tại địa điểm này lũy là nơi tiếp giáp giữa 3 xã: xã Trà Bùi huyện Trà Bồng (tại thôn Gò), xã Sơn Hạ huyện Sơn Hà và xã Tịnh Giang huyện Sơn Tịnh. Đoạn qua thôn Gò xã Trà Bùi huyện Trà Bồng rất ngắn.
2.2.2. Huyện Sơn Hà
2.2.2.1. Xã Sơn Hạ
Đoạn đi qua địa bàn huyện Sơn Hà, phía Nam của lũy là các thôn: xóm Ren, xóm Gò Rùa – Bạch Cu, xóm Nhom thôn Đèo Gió của xã Sơn Hạ huyện Sơn Hà, còn phía bắc của lũy là thôn Phước Thọ xã Tịnh Giang huyện Sơn Tịnh.
Sau khi kết đoạn tiếp giáp đó lũy vượt sông Trà Khúc, đi qua một đoạn ngắn xóm Nham thôn Đèo Gió xã Sơn Hạ huyện Sơn Hà, rồi sang địa phận xã Nghĩa Lâm huyện Tư Nghĩa.
2.2.3. Huyện Tư Nghĩa
2.2.3.1. Xã Nghĩa Lâm
Qua xóm Nham thôn Đèo Gió xã Sơn Hạ Huyện Sơn Hà, lũy qua xã Nghĩa Lâm trên địa phận các thôn 1 đến thôn 5 và cuối cùng là thôn 8.
2.2.3.2. Xã Nghĩa Sơn
Từ thôn 8 xã Nghĩa Lâm lũy qua thôn 1 xã Nghĩa Sơn.
2.2.3.3. Xã Nghĩa Thắng
Từ thôn 1 xã Nghĩa Sơn lũy nối liền sang Nghĩa Thắng và chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Trong địa bàn xã Nghĩa Thắng đi qua: xóm 1 thôn An Tây, rồi đến xóm Thuận Bình và kết thúc ở xóm 4 thôn An Tây.
2.2.3.4. Xã Nghĩa Thọ
Từ thôn An Tây lũy tiếp tục kéo dài sang xã Nghĩa Thọ ở xóm Nước Ngọn thôn 2. Qua xóm Nước Ngạn lũy sang xóm Cây Trâm, rồi kết thúc địa bàn xã xóm Đèo (khu vực đèo Chim Hút).
2.2.4. Huyện Nghĩa Hành và huyện Minh Long
2.2.4.1. Xã Hành Dũng huyện Nghĩa Hành
Sau khi lũy qua khu vực Đèo Chim Hút bắt đầu sang địa bàn xã Hành Dũng. ở xã Hành Dũng đầu tiên mà lũy qua là xóm Đèo (Hố Bà Năm). Tiếp đó lũy qua thôn Kim Thành Hạ.
2.2.4.2. Xã Hành Nhân huyện Nghĩa Hành và xã Long Sơn, xã Long Mai huyện Minh Long
Từ thôn Kim Thành Hạ xã Hành Dũng, lũy qua thôn Kim Thành Thượng xã Hành Nhân, rồi đến xóm Bồng Lai thôn Tân Thành, sau đó chạy sang thôn Đồng Vinh.
Qua thôn Đồng Vinh lũy vượt qua sông Phước Giang đổi hướng từ Bắc – Nam sang Đông – Tây và từ đây thành đường giáp giới của hai xã Hành Nhân huyện Nghĩa Hành và xã Long Sơn huyện Minh Long. Khoảng đầu, lũy là ranh giới giữa hai thôn: phía nam là thôn Biều Qua xã Long Sơn huyện Minh Long, phía Bắc là thôn Trúc Lâm xã Hành Nhân huyện Nghĩa Hành. Sau khi qua khu vực giáp giới với thôn Biều Qua lũy đến thôn Tân Lập xã Hành Nhân huyện Nghĩa Hành. Qua thôn Tân Lập lũy đi lên đỉnh đèo Phước Lộc và giáp với xã Long Mai huyện Minh Long ở phía Tây (chưa xác định rõ thôn). Về phía Đông, lũy qua địa bàn xã Hành Nhân nhưng đồn/bảo lại nằm ở khu vực ruộng của thôn Long Bàng Nam xã Hành Minh huyện Nghĩa Hành.
Sau khi vượt qua đèo Phước Lộc lũy sang địa bàn xã Hành Thiện.
2.2.4.3 xã Hành Thiện huyện Nghĩa Hành và xã Long Mai huyện Minh Long
Qua đèo Phước Lộc lũy sang thôn Kỳ Hát xã Long Mai huyện Minh Long sau đó lũy đến thôn Phú Lâm Đông, rồi đến thôn Phú Lâm Tây (chỗ cầu Cộng Hòa) xã Hành Thiện huyện Nghĩa Hành.
2.2.4.4. Xã Hành Tín Tây
Hết xã Hành Thiện lũy lên khu vực Núi Tròn thuộc thôn Tân Phú xã Hành Tín Tây. Qua thôn Tân Phú, qua thôn Long Bình, rồi qua xóm Gò Sơn thôn Đồng Miếu, lũy đến thôn Phú Thọ và kết thúc địa bàn xã ở thôn phú Khương trước khi lũy qua Sông Vệ sang địa bàn xã Hành Tín Đông.
2.2.4.5 Xã Hành Tín Đông
Sau khi qua Sông Vệ lũy qua địa bàn thôn Nhơn Lộc, sau đó đến thôn Khánh Giang và kết thúc địa bàn xã ở thôn Trường Lệ. đặc biệt ở đây có đồn/bảo Thiên Xuân, một căn cứ lớn trên hệ thống lũy bảo vệ, chi phối toàn bộ khu vực lũy đi qua Sông Vệ tại vùng này.
2.2.5. Huyện Ba Tơ và huyện Đức Phổ
2.2.5.1 Xã Ba Động
Sau khi qua thôn có Trường Lệ, lũy lên khu vực đèo Đá Chát sang địa phận huyện Ba Tơ. Đầu tiên lũy qua xã Ba Động. ở đây lũy bắt đầu qua thôn Tân Long Hạ, đến thôn Hóc Kè rồi sau đó chạy qua sau lưng UBND xã. Sau khi chạy qua trung tâm xã Ba Động lũy đổi hướng từ Đông – Tây sang Bắc – Nam và chạy tới thôn Nam Lân, sau đó chạy qua khu vực Hố Bồ thôn Trường An- Hóc Kè của xã Ba Thành và kết thúc ở khu vực Đèo Ông Huyện.
2.2.5.2. Xã Ba Liên
Sau khi qua Đèo Ông Huyện, lũy đến khu vực ruộng Trũng Liêm thôn Đá Chát xã Ba Liên, tiếp đó đến khu Vực Liêm và bị Hồ Ba Liên cắt qua.
2.2.5.3. Xã Phổ Nhơn huyện Đức Phổ
Qua Hồ Ba Liên lũy đến khu vực đèo Đá Líp thôn Phước Thượng xã Phổ Nhơn huyện Đức Phổ. Tiếp đó, lũy qua thôn Nhơn Tân, sang thôn An Sơn và kết thúc địa bàn xã ở thôn An Tây.
2.2.5.4. Xã Phổ Ninh, xã Phổ Hòa, xã Phổ Cường huyện Đức Phổ và xã Ba Khâm huyện Ba Tơ.
Qua thôn An Tây xã Phổ Nhơn, lũy sang khu vực đập Khu Dung của xã Phổ Ninh, sau đó chạy qua khu vực đập Ông Thọ là giáp giới giữa thôn Hiến Văn xã Phổ Hòa huyện Đức Phổ với thôn Hố Sâu xã Ba Khâm huyện Ba Tơ. Tiếp đó, lũy bị ngập ở khu vực hồ Liệt Sơn giáp giới xã Phổ Hòa và xã Phổ Cường huyện Đức Phổ. Qua hồ Liệt Sơn lũy chạy sang chỗ giáp giới giữa thôn Xuân Thành rồi đến thôn Thanh Sơn xã Phổ Cường huyện Đức Phổ với xã Ba Khâm huyện Ba Tơ. Sau đó lũy đi vào rừng rậm rạp giáp giới hai huyện này, chưa xác định được tên thôn.
2.3. Đặc điểm địa lý
Các dữ liệu GPS (phụ lục dưới đây) cho thấy rằng, độ cao trung bình của lũy ở Quảng Ngãi là 45 m.
Phần lớn các độ cao các điểm phân bố trong khoảng trên 10m đến trên 40 m. trong đó hơn một nửa là các điểm thấp nhất: trên 10m đến trên 20 chủ yếu ở các huyện Tư Nghĩa và Nghĩa Hành.
Các huyện miền núi như Trà Bồng, Ba Tơ, Đức Phổ cũng góp mặt nhiều trong các điểm có độ cao trung bình trên 30m đến trên 40m. còn các điểm từ trên 50m đến trên 100m hầu hết ở các huyện miền núi này.
Dù ở trong vùng có độ cao trung bình trên 30m đến trên 40m. còn các điểm từ trên 50m đến trên 100m hầu hết ở các huyện miền núi này.
Dù ở trong vùng có độ cao trung bình của lũy thấp nhất, nhưng huyện Nghĩa Hành lại có các điểm lũy cao nhất: trên 200m mà chủ yếu là ở đèo, đồi núi như Đèo Phước Lộc ở xã Hành Nhân, huyện Nghĩa Hành (227m). xã Phổ Cường huyện Đức Phổ chỉ có một điểm có độ cao tương đương (243m).
Thống kê trên khẳng định thêm về mặt địa hình của lũy ở Quảng Ngãi: lũy chủ yếu chạy men theo chân núi, lưng đồi thấp. Thỉnh thoảng vượt qua những đồi thấp là đoạn kết của các dãy núi chạy từ phía Tây tới, đủ bao quát được đồng bằng. ở những điểm cao đáng kể nhất của mình, lũy cũng men theo các con đường vượt qua eo núi nối liền các thung lũng.
Trên toàn tuyến lũy điều có thể tiếp cận dễ dàng bằng các con đường liên tỉnh, liên huyện và liên xã. Một số điểm lũy sát ngay bên đường tỉnh và quốc lộ như ở khu vực Hành Tín Đông, Ba Động…
3. SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ THUỘC TÍNH CỦA DI TÍCH
3.1. THUỘC TÍNH DI TÍCH
Trường lũy là một loại hình di tích rất đặc biệt, lũy dài 113 km chạy suốt từ Bắc đến Nam tỉnh Quảng Ngãi, sang cả các huyện phía Bắc tỉnh Bình Định (14,4 km). Dọc theo tuyến lũy còn có một hệ thống đồn/bảo dày đặc và bên cạnh lũy gần như lúc nào cũng có một con đường, thường được gọi là Đường Cái quan. Với đặc điểm như vậy di tích Trường Lũy là một phức hợp các di tích, tất nhiên nó mang tính di tích lịch sử nhưng bao gồm nhiều yếu tố, quân sự, thành lũy, đồn binh, đường cổ. phải đánh giá di tích này là loại hình đặc biệt chưa được biết đến trong quá trình xét duyệt Hồ sơ Di Tích Lịch văn hóa Quốc Gia. Hơn nữa di tích Trường Lũy luôn nằm trong một phong cảnh thiên nhiên với hệ thống sông suối, núi non, ruộng đồng, nương rẫy, rừng cây bao phủ đã tạo nên một phức hợp di tích hòa quyện với thiên nhiên đẹp và hoành tráng.
3.2. Sự kiện nhân vật lịch sử
Di tích này gắn liền với sự phục hưng của Nhà Nguyễn với ông vua đầu triều Gia Long Nguyễn Ánh và một nhân vật rất nổi tiếng của triều Nguyễn hồi đầu thế kỷ XIX là tả quân Lê Văn Duyệt.
Điều may mắn là biên niên sử đã cho ta cơ sở cứ liệu làm sáng tỏ một số luận điểm vừa nêu. Theo bản triều nghịch liệt truyện, việc dựng lũy được dẫn dắt từ những sự kiện sau:
“Gia – Long năm thứ 2, Quý Hợi (1803) (…) mọi Thạch – bích (Đá Vách) ở Quang – Nghĩa khuấy phá rất ngặt. Tả quân Lê – Văn – Duyệt đi đánh dẹp. Vua dạy rằng: “Giặc Mọi hung – dữ gây hoạn nạn không thể đi đánh dẹp: nhưng đường xá hiểm hóc, phông thể mà phá dứt được, ngươi hãy tùy tiện xử - trí cho thích – hợp, để thu – phục được lòng chúng; nghĩa là không cần đánh mà khuất – phục được giặc, mới là thượng sách”. Vì vậy nên khi duyệt đã đến nơi, bèn bí mật sai vệ - úy tên Nhượng, giả - dạng làm dư – đảng của Tây – Sơn, lén vào các làng Mọi để sống chung với bọn chúng, rồi thăm dò tình – trạng cuộc khởi loạn này. Họ nói không có ý phản – nghịch gì cả, nhưng khốn nỗi chỉ vì sự hạch sách hà khắc không ngừng của viên phó – quản – cơ Lê – Quốc – Huy nên tụ tập mà làm phản đó. Thôi Nhượng trở về báo cáo cho Duyệt; Duyệt bắt ngay tên Phó – cơ Quốc – Huy đem quân pháp buộc tội, rồi tẩu lên xin chém . Bởi thế bọn Mọi dìu dắt nhau đến hạnh phúc”.
- “Gia – Long năm thứ 14 (Ất - Hợi, 1815), bọn mọi dữ ở tỉnh Quảng Nghĩa lại ra quấy nhiễu dân cư nơi biên giới Quan trấn – thủ Phan – Tấn Hoàng đem quân Đánh với chúng bị thất bại. Tổng – trấn Gia – Đinh Lê – Văn Duyệt lại đem quân tới. Bọn mọi dữ biết tín, điều liền trốn hết. Duyệt tâu xin đắp thành Bình – man, ngoài cắm chông, dưới chân thì đào hào, phía bắc tới Gia – Tiên, giáp phủ Thăng – Bình tỉnh Quảng Nam; phía nam tới Đồng – Xanh, giáp phủ Y – Nhân tỉnh Bình – Định, được 37.497 trượng tạ, để 6 cơ – binh trấn giữ” (Bản triều bạn nghịch liệt truyện 1963: 9, 13 – 14, 23).
Từ cứ liệu lịch sử này, chúng ta có thể đưa ra hướng lý giải sâu rộng hơn. Có thể hinh dung cụm từ độc tố, truyền vào mối quan hệ giữa cư dân đồng bằng và miền núi trong mấy chục năm trời thống khổ dưới triều Nguyễn Phúc Khoát và Trương Phúc Loan, độc tố càng lan mạnh trong thời kỳ khủng hoảng vì khởi nghĩa Tây Sơn. Và Lê Quốc Huy trong sự kiện nêu trên hiển nhiên không phải là trường hợp duy nhất. Đó chỉ là giọt nước tràn ly như bao điều tích tụ khác khiến việc quây lại chính sách dân tộc của các chúa Nguyễn thời kỳ đầu, như Gia Long từng nhắc Lê Văn Duyệt, khó lòng mà thực hiện. Những đè nén từ thế kỷ XVIII đã trở thành độc tố cho mối quan hệ dân tộc vào thế kỷ XIX và đây là loại độc tố mà nhà Nguyễn chẳng thể làm tiêu tan.
Một giả thuyết khác còn cần phải xem xét cho rằng việc xây dựng Trường Lũy là hệ quả của nguồn cảm ứng truyền từ Vạn Lý Trường Thành, Trung Quốc. song những hiểu biết về mô hình quân sự Trung Quốc có thể đã dẫn Đào Duy Từ đến việc xây dựng phần lũy thuộc tỉnh Quảng Bình. Và thành quả của những bức lũy này dưới thời Trịnh – Nguyễn phân tranh thế kỷ XVII có thể đã đưa Lê Văn Duyệt đến quyết định xây dựng Trường Lũy ở Quảng Ngãi. Tuy nhiên, nguồn cảm hứng từ Trung Hoa chỉ có vai trò chung chung chứ Trường Lũy Việt Nam và Trường Thành Trung Quốc hoàn toàn khác nhau, cả về ý tưởng, kiến trúc lẫn chức năng.
Mặt khác, mô hình không chỉ dẫn đến việc xây dựng lũy:mà còn đưa đến ý tưởng khẳng định đường biên giới quốc gia. Cùng lúc Lê Văn Duyệt thực thi chính sách tương tự ở vùng biên giới Campuchia – xây dựng kênh đào Vĩnh Tế thuộc phần biên giới với Campuchia (ngày nay thuộc tỉnh Vĩnh Long).
Cũng như ở Trung Quốc, Trường lũy tại Quảng Ngãi là phương sách cuối cùng sau hàng loạt sách lược không phù hợp trước đó (Waldron: 1990). Mặt dù ý tưởng dựng lũy là nhằm giải quyết rắc rối nhưng hệ quả của nó cuối cùng lại làm sâu thêm rắc rối.
4. LOẠI HÌNH DI TÍCH:
Trường Lũy Quảng Ngãi thuộc loại hình di tích: kiến trúc Lũy – Đường cổ - Đồn/bảo.
Trường Lũy là loại hình di tích đặc biệt, quy mô lớn, kéo dài hàng trăm km lại có những di tích liên quan mật thiết không thể tách rời như đồn/bảo, đường cổ, phong cảnh thiên nhiên. Nét đặc trưng là một di tích dài, được xây dựng bằng vật liệu khai thác tại chỗ như đất đồi, đất ruộng, đá tự nhiên với nhiều kỹ thuật đắp, đầm đất, xây, xếp đá… rất đặc trưng của cư dân đồng bằng ven chân núi và miền núi phía tây Quảng Ngãi.
5.KHẢO TẢ DI TÍCH:
Do lũy dài 113 km, đi qua nhiều địa hình khác nhau, trên địa hình bằng phẳng nó được đắp bằng đất, nơi sườn núi có độ dốc vừa phải lũy được đắp cốt đất ở trong và áp đá ở bên ngoài. Sở dĩ phải áp đá bên ngoài là để tránh hiện tượng trôi trượt của lũy trên sườn đồi, núi. Trên địa hình có độ dốc lớn, vượt qua những ngọn núi cao như ở một vài địa điểm các huyện Tư Nghĩa, Ba Tơ, Đức Phổ… lũy được xây hoàn toàn bằng đá, kỹ thuật này giúp cho lũy có độ bền cao, không bị sạt lở, trôi trượt ngay cả khi có những bất thường về thời tiết như mưa gió lớn xảy ra. Nhiều nơi quy mô của lũy rất lớn, có khi cao đến 4m, chân lũy rộng 6m, mặt trên rộng 2,5m như ở Ba Động, Ba Tơ. Nói chung, di tích lũy hiện tại còn khá nhiều và rõ ràng, nhiều nơi ở các điểm núi cao, hiểm trở di tích gần như còn nguyên vẹn, nhất là phần lũy xây bằng đá. Những nơi địa hình bằng phẳng, có nhiều dân cư sinh sống và canh tác thì lũy bị phá hoại nhiều. Nhân dân phá lũy để lấy đất trồng trọt, hiện tượng này khá phổ biến, nhất là ở các huyện Sơn Tịnh, Sơn Hà, Nghĩa Hành, Đức Phổ, Tư Nghĩa…
Kết cấu của các đồn bảo dọc theo lũy cùng khá đa dạng, chủ yếu đồn được xây dựng bằng đất, có mặt bằng hình vuông hoặc chữ nhật, có cửa ra vào và gần như nằm ngay sát lũy về phía dưới. Một số đồn bảo đóng ở những vị trí quan trọng như nơi sông lớn chảy qua như Thiên Xuân, Hành Tín Đông đồn có quy mô lớn, được xây dựng bằng đá rất kiên cố và nằm tách biệt khỏi lũy, như một cứ điểm bao quát một khu vực rộng lớn thuộc địa bàn cả Hành Tín Đông và Hành Tín Tây hiện nay. Tại thôn Nam Lân, Ba Động, Ba Tơ đồn cũng có quy mô khá lớn, được xây bằng đá, xung quanh có hào sâu, nằm ngay trên sườn một ngọn núi có độ dốc lớn, tách khỏi lũy. Nói chung các đồn bảo đến nay còn để lại dấu tích khá nhiều, có nhiều nơi gần như nguyên vẹn. Những cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành trong khu vực các đồn bảo này sẽ đưa ra những thông tin khoa học quan trọng về niên đại, cấu trúc, kỹ thuật xây dựng… giúp chúng ta hiểu rõ hơn về di tích.
5.1. Hiện trạng của lũy
Trên suốt chiều dài từ điểm cực bắc tại huyện Trà Bồng đến điểm cực nam là huyện Đức Phổ hầu như lũy còn tương đối nguyên vẹn.
Các đoạn tiêu biểu ở các huyện tính từ bắc vào nam:
5.1.1. Huyện Trà Bồng
Thôn Bắc – xã Trà Sơn bề mặt lũy còn khá nguyên vẹn, cao 3m, rộng 3m, hào lũy còn rất rõ.
Đồi Trà Nam xã Trà Sơn lũy đắp bằng đất kè đá ở hai bên, bề mặt lũy thành rộng 2.0m – 2.3m, cao chừng 3.5m – 4.0m hào sâu 3.5m – 4.0m.
Khu vực này thuộc tổ 3 thôn Sơn Bàng xã Trà Phú. Tiếp tục đi theo diễn tiến lũy ở khu vực bờ đông suối Tre hiện trạng lũy còn khá rõ nét, cao 2.5m, rộng 2.0m, bên dưới kè đá, giữa đắp bằng đất lẫn đá, điểm này dễ nhận diện cho người dân đốt rẫy làm phát lộ bờ lũy. Phía đông Nam là hào sâu rộng chừng 2.0m, bề mặt toàn cây bụi, có đoạn trồng tre và bạch đàn.
Ở đội 9 thôn Phú Tài xã Trà Phú ở bờ đông suối Vin bề mặt lũy rộng 2.5m – 3.0m, phần chân đế rộng 4.0m, cao 2.0m, bên ngoài lũy có hào khá sâu khoảng 2m.
Dọc theo diễn tiến lũy thành, ở khu vực thôn Bình Tân – xã Trà Bình chúng tôi gặp đường giao thông cắt ngang qua lũy. Đây là con đường đi đến đập Trà Bình. Phía bên kia đường, một đoạn lũy thành nằm ngay cạnh đường giao thông. Chúng tôi xác định điểm (070) cao 4.0m, rộng 3.0m – 3.5m, đắp bằng đất, vết tích hào lũy bên ngoài khá rõ, bề mặt lũy trồng bạch đàn.
Khu vực ruộng Hố Môn thôn Bình Tân – xã Trà Bình, đoạn lũy này còn khá quy mô, rộng chừng 5.0m, haog rất sâu khoảng 4.5m – 5.0m, đắp bằng đất kè đá, và điểm đặc biệt, hào lũy cũng chính là khe nước tự nhiên chảy theo mùa.
Thôn Gò – xã Trà Bùi đây có thể là xem là đoạn lũy còn rất nguyên vẹn, đắp bằng đá tảng và cuội tròn lớn bằng đầu người. Lũy cao 2.0m – 2.5m, bề mặt rộng 2.0m, hào sâu 1.5m – 2.0m.
5.1.3. Huyện Sơn Tịnh
Đường đi lên đỉnh Hòn Ngang – xã Tịnh Giang Lũy cũng còn tương đối nguyên vẹn cao 2.0m, rộng 2.0m, hào lũy còn khá rõ.
5.1.3. Huyện Sơn Hà
Địa phận lang Ren. Khu vực này lũy là ranh giới giữa Sơn Hạ và Tịnh Giang, được đắp bằng đất, cao chừng 1.5m, rộng 0.5m, có đoạn cao 2.0m, phía Tịnh Giang trồng mì, phía Sơn Hạ trồng keo. Bề mặt lũy thành mọc đầy cây bụi.
5.1.4. Huyện Tư Nghĩa
Tại thôn 1- xã Nghĩa Lâm. Hiện trạng đoạn lũy này cho thấy bờ lũy đắp bằng đất, rộng 2.5m, cao 2.0m, bờ đất (thành giai) rộng 2.5m, hào lũy ở về phía nam, rộng 1.5m, sâu từ 0.5m – 0.8m, bề mặt trồng keo, bạch đàn.
5.1.5. Huyện Nghĩa Hành
Ở xóm Đèo (Hố Bà Năm) – xã Hành Dũng. Lũy còn tương đối nguyên vẹn, được xây bằng đá, cao 2.5m, mặt rộng 1.7m, chân rộng 3.0m, hào rộng 2.0m, sâu 1.0m.
Thôn Kỳ Hát – xã Hành Thiện. lũy được xây bằng đất, phía ngoài kè ốp cao 2.0m, mặt rộng 1.5m, chân rộng 4m.
Khu vực núi tròn – xã Hành Tín Tây. Lũy được xây bằng đất cao 2.5m, chân rộng 4.0m, mặt rộng 2.0m.
Thôn Phú Thọ - xã Hành Tín Tây. Lũy được xây bằng đất cao 2.5m, chân rộng 4.0m, mặt rộng 2.0m.
Tại thôn Khánh Giang – xã Hành Tín Đông. Lũy xây bằng đá, cao 2.5m, mặt rộng 1.5m.
5.1.6. Huyện Ba Tơ
Khu vực Hố Bồ - xã Ba Động, lũy được xây bằng đá, cao tới 4.0m, chân rộng 5.0m, mặt rộng 1.2m.
Khu vực đèo Ông Huyện lũy cũng còn tương đối nguyên vẹn, được xây bằng đá cao 2.5m chân rộng 1.5m, hào là con suối phía tây rất sâu.
5.1.7. Huyện Đức Phổ
Khu vực đèo Đá Líp – xã Hoài Nhơn, lũy được xây bằng đất phía ngoài ốp đá rất chắc chắn, còn nguyên vẹn cao tới 2.5m, chân lũy rộng 4.0m, mặt rộng 2.0m hào cũng còn khá rỗ và sâu.
Khu vực đèo Ải – xã Phổ Cường, lũy xây bằng đất, phía ngoài ốp đá, cao 2.5m, chân rộng 4.0m, mặt rộng 1.2m. sau điểm này lũy lũy bị khuyết chưa tìm thấy.
Đoạn lũy bị xâm hại (Tính từ bắc vào Nam)
5.1.8. Huyện Trà Bồng
Ở thôn phú tài huyện Trà Phú người dân đã dùng máy ủi san phẳng đi một đoạn khoảng 200m để làm đường để khai thác đá và cây.
5.1.9. Huyện Sơn Tịnh
Đi dọc theo lũy, chúng tôi nhận thấy, đoạn lũy chỗ nhà ông Nguyễn Quốc Cường (31 tuổi), thôn Vĩnh Hội, xã Tịnh Hiệp, huyện Sơn Tịnh đã phá đi để lấy mặt bằng trồng keo vào năm 2005 không ít, cũng dài trên 50m.
5.1.10. Huyện Tư Nghĩa
Khi lũy từ Tịnh Giang chạy qua Sông Vệ sang bên xã Nghĩa Lâm thì hầu như đã bị người dân san phá để lấy mặt bằng canh tác hoặc làm nhà ở.
5.1.11 Huyên Nghĩa Hành
Ở khu vực cầu Cộng Hòa lên đến khu vực núi tròn thuộc thôn Tân Phú, lũy đã bị sang bằng để lấy đất canh tác mía và hoa màu. Đoạn này có chiều dài khoảng 500m – 800m.
5.1.12. Huyện Ba Tơ
Thôn Hóc Kè – xã Ba Động, chỗ trạm cân cũng đã bị phá đi cũng đã bị phá đi để xây dựng trạm cân.
5.1.13 Huyện Đức Phổ
Khu vực nông trường mía thuộc xã Phổ Nhơn, cũng đã bị người dân san phá đi để lấy đất canh tác mía.
Ngoài ra còn rất nhiều chỗ khác cũng bị xâm hại với mức độ và mục đích khác nhau như khu dân cư, đường xá, chăn nuôi, trồng trọt…
5.2. Các dạng cấu trúc lũy
5.2.1 Cấu trúc cơ bản
- Lũy đắp hoàn toàn bằng đất: Có một số đoạn tiêu biểu như ở thôn An Tây, xã Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa; Thôn Hốc Kè, xã Ba Động, huyện Ba Tơ; Nông trường mía của xã Phổ Nhơn, huyện Đức Phổ…
- Lũy đắp bằng đất chen lẫn đá: các điểm tiêu biểu như Độ 1- Bình tân, xã Trà Bình, huyện Trà Bồng; Đội 5 (Xóm Hẻo) – thôn Đông Hòa, xã Tịnh Giang, huyện Sơn Tịnh; xóm Đèo, xã Hành Dũng thôn Trường lệ - thôn Khánh Giang, xã Hành Tín Đông, thôn Phú Thọ xã Hành Tín Tây, huyện Nghĩa Hành; thôn Tân Long Hạ, xã Ba Động, huyện Ba Tơ, khu vực đèo Đá Líp, xã Phổ Nhơn, huyện Đức Phổ…
- Lũy được đắp bằng đất chen lẫn đá: Các điểm tiêu biểu như Đội 1 – Bình Tân, xã Trà Bình, huyện Trà Bồng; Đội 5 (Xóm hẻo) – thôn Đông Hòa, xã Tịnh Giang, huyện Sơn Tịnh; xóm Đèo, xã Hành Dũng, thôn Trường Lệ - thôn Khánh Giang, xã Hành Tín Đông, thôn Phú Thọ, xã Hành Tín Tây, huyện Nghĩa Hành; thôn Tân Long Hạ, xã Ba Động, huyện Ba Tơ; khu vực Đèo Đá Líp, xã Phổ Nhơn, huyện Đức Phô…
- Lũy đắp đất ốp đá phía ngoài: Có 3 loại
+ Ốp phía trong: Tiêu biểu ở thôn Phú Lâm Đông, xã Hành Thiện, Nghĩa Hành,…
+ Ốp phía ngoài: Như xóm Cây Trâm, xã Nghĩa Thọ, huyện Tư Nghĩa.
+ Ốp cả hai bên: Lũy đắp bằng đất ốp đá cả hai bên chủ yếu tập trung ở khu vực lũy chuẩn bị chuyển chất liệu, hoặc là chuyển sang bằng đất hay sang bằng đá hoàn toàn, xuất hiện chủ yếu ở chỗ lũy sắp qua các đèo: Chim Hút, Đá Chát, Ông Huyện, Đá Líp, Đèo Ải… hoặc là chuyển sang đắp đất hoàn toàn như chỗ khu vực đèo Đá Líp xuống chỗ nông trường mía ở xã Phổ Nhơn,…
- Lũy đắp hoàn toàn bằng đá: Hầu như lũy đi qua chân núi như khu vực Đèo Chim Hút, xã Hành Dũng, khu vực đèo Phước Lộc, xã Hành Nhân, huyện Nghĩa Hành. Khu vực đèo Đá Chát của xã Ba Động, khu vực đèo Ông Huyện, xã Ba Liên huyện Ba Tơ. Khu vực đèo Đá Líp, xã Phổ Nhơn, Đèo Ải xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ…
- Lũy đắp bằng đất pha cát: Tiêu biểu nhất ở Thôn 2- xóm Nước Ngạn, xã Nghĩa Thọ, huyện Tư Nghĩa. Thôn Trúc Lâm, xã Hành Nhân, Nghĩa Hành…
5.2.2 Về hình dáng
Cơ bản xuất hiện ở ba dạng khác nhau:
- Lũy đắp bằng đất hay đất chen lẫn đá có dạng hình móng ngựa.
- Lũy đắp bằng đất hoặc đá có dạng hình móng ngựa chồng lên nhau, bên dưới lớn hơn bên trên.
- Lũy đắp bằng đá có dạng hình thang, cạnh dưới lớn, cạnh trên nhỏ.
Như vậy, các kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ một chi tiết gây kinh ngạc, theo Đại Nam thực lục thì: dọc theo Trường Lũy, có tới 115 đồn, ở mỗi đồn lại có 10m lính canh giữ. Chi tiết này chỉ ra rằng lũy được xây dựng theo kết cấu phòng thủ ‘thoáng’, cho phép dân cư hai miền xuôi, ngược qua lại dễ dàng đồng thời vẫn kiểm soát được mọi hoạt động đi lại của họ. theo cách phân tích này, Trường Lũy có sự tương đồng sâu sắc với thành Hadrian, miền bắc nước Anh, do hoàng đế La Mã Hadrian xây dựng năm 122. Viết kết cấu, cứ mỗi dặm lại có một pháo đài kiểm soát việc qua lại giữa hai vùng.
Bên cạnh đó, Trường Lũy còn thúc đẩy giao dịch Bắc – Nam. Chứng cứ khảo cổ, lịch sử và dân tộc học gợi ra khả năng lũy được xây dọc theo một con đường cổ (ban đầu là ‘quan lộ’ nối giữa kinh đô và các tỉnh miền nam): đường cái quan thượng. Ngày nay, cư dân huyện Đức Phổ còn gọi ‘Trường Lũy’ là "Đường cái quan thượng”. Trên thực tế, vết tích con đường cổ hiện nay vẫn còn ở xã Phổ Châu, huyện Đức Phổ, Ba Động, Ba Thành, Ba Khâm, huyện Ba Tơ. Nghĩa Thắng, huyện Tư Nghĩa. Và gần như chỗ nào có lũy chúng tôi đều thấy hiện diện một con đường cổ ngay gần đó. Qua một chứng cứ khảo cổ khác, ta lại thấy trường lũy đóng vai trò lớn (chỗ con suối cắt qua thì lát bằng đá). Từ đó, giả thuyết hiện nay cho rằng việc xây dựng Trường Lũy là nhằm bảo vệ cho một con đường trước đó. Con đường này chính là con đường huyết mạch Bắc – Nam, nó đảm bảo cho việc đi lại, giao thương trên toàn lãnh thổ, nếu bị chia cắt, an ninh quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. qua những tài liệu điền dã trong những năm qua, chúng tôi có thể khẳng định một điều: Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con đường này tiếp tục là con đường hành quân, vận chuyển lương thực của bộ đội, nó trở thành một phần của đường Hồ Chí Minh. Chính nó góp phần quan trọng là nên chiến thắng của hai cuộc kháng chiến.
6. CÁC HIỆN VẬT TRONG DI TÍCH
Trong những năm 2009 và 2010 các nhà khoa học đã khai quật 3 di tích đồn/bảo trên hệ thống lũy: tại Thiên Xuân, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành. Di tích Rùm Đồn xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành và di tích Đèo Chim Hút, xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành. Bên cạnh đó các nhà khảo cổ học cũng thám sát tại di tích lũy ở thôn Phú Thọ, xã Hành Tín Tây, huyện Nghĩa Hành. Kết quả cho thấy: trong các đồn/bảo có khá nhiều hiện vật gốm không men hay đất nung vở ra từ các loại hình như vò, nồi, chóe, vại… đây là những vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày của những binh lính đồn trú. Bên cạnh đó các nhà khảo cổ học còn phát hiện nhiều mảnh gốm có men, những loại gốm này, qua nhiều nghiên cứu chúng là gốm thương mại có xuất xứ từ Quảng Đông, Hồng Kông, Hải Nam (Trung Quốc). từ Hải Dương Bát Tràng (Bắc Việt Nam). loại hình gốm này chủ yếu là bát, đĩa tráng men, có hoa văn trang trí trên thân. Niên đại chủ yếu cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18. Căn cứ vào những hiện vật gốm có niên đại cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18 phát hiện tại chân móng đồn/bảo Đèo Chim Hút, có thể nhận định đồn/bảo này có niên đại sớm hơn niên đại xây lũy theo Sử Biên Niên năm 1819. Cho đến nay, nhận định đã có một số đồn/bảo được xây dựng trước, vào khoảng cuối thế kỷ 17 là có cơ sở tin cậy. những đồ gốm thương mại này cũng cho thấy sự buôn bán khá tấp nập của hai vùng cao và đồng bằng trên địa bàn Quảng Ngãi trong những thế kỷ 17 – 18.
Ngoài những đồ gốm, các nhà khảo cổ học còn tìm thấy trong hố khai quật Thiên Xuân những mảnh vòng trang sức bằng đồng và hạt chuỗi thủy tinh của đồng bào H’Re xưa. Tư liệu này phối hợp với những nghiên cứu về những kỹ thuật xếp đá hiện nay của người H’Re cho thấy: Việc cộng đồng H’Re cùng người việt tham gia vào việc xây cất các đồn/bảo và lũy là đáng tin cậy.
Có thể nói rằng mặc dù hiện vật khai quật không nhiều về số lượng chỉ vài chục ngàn mảnh gốm các loại và 2 mảnh vòng, một viên cườm hạt chuỗi những giá trị và thông tin khoa học của chúng lại rất lớn và bổ ích.
Chúng giải tỏa được nhiều mắc mớ trong nghiên cứu cũng như trả lời được những câu hỏi khó về niên đại và chủ nhân của di tích.
7. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA, KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG LŨY
7.1. Là một công trình khảo cổ, Trường Lũy có nhiều nét đặc biệt, trước hết là chiều dài của nó:127,4 km, trong đó có 113 km trên đất Quảng Ngãi.
7.2. Trường Lũy cũng là một công trình kiến trúc lớn và đa dạng: nhiều phần của nó được làm bằng đá, nhiều phần khác làm bằng đất, và những đoạn làm bằng cả đất và đá. Kỹ thuật xếp đá đặc biệt được sử dụng cũng khác nhau từ đoạn lũy này sang đoạn lũy khác. Sự đa dạng này là một phần xuất phát từ việc sử dụng các nguyên liệu tại chỗ trong cấu trúc của lũy, phần vì sự đa dạng của những người xây lũy (người Hrê bản địa, người Việt, và binh lính), phần nữa là từ thực tế rằng lũy được đắp thêm, được sửa sang suốt thời kỳ nó đóng vai trò là một công trình quân sự (thế kỷ 19).
7.3. Một điểm nữa là số lượng các công trình có liên quan, đặc biệt là các bảo. Hơn 70 bảo đã được tìm thấy, chúng được xây bằng đá và tình trạng bảo tồn tốt, hoặc xây bằng đất có hào bao quanh. Điều này cho thấy giá trị về nghệ thuật quân sự của tiền nhân trong lịch sử.
7.4. Có một con đường cổ chạy dọc theo lũy. Đây là một phần của Đường Thiên Lý nối kinh đô với các tỉnh phía Nam. con đường nhiều tuổi hơn (có trước) lũy. Cuộc khai quật khảo cổ học tới đây sẽ chỉ ra liệu nó có niên đại từ thời Champa hay không. Một đoạn của Đường Thiên Lý không liên quan tới lũy cũng đã được tìm thấy ở xã Phổ Châu, gần Sa Huỳnh (thuộc huyện Đức Phổ).
7.5. Trường Lũy và các kiến trúc liên quan tạo thành một hệ thống quân sự rõ ràng có mục đích bảo vệ khu vực của người việt quản lý. Nó là một kiến trúc phòng vệ quân sự được dựng lên để ngăn chặn xung đột. Tuy nhiên nghiên cứu mới đây lại đang chỉ ra rằng lũy không phải là một công trình chỉ do người việt xây dựng. Nguồn gốc của việc tạo một ranh giới được sự đồng ý của cả hai bên. Hai bên đã cùng tham gia vào xây dựng lũy, với việc sử dụng đáng kể kỹ thuật xếp đá của người H’re. Quá trình trao đổi chính trị và kỹ thuật liên quan tới việc xây dựng Trường Lũy là một trong những đặc điểm đặc biệt của di tích và cũng là điểm đặc biệt của lịch sử nhân loại, không phải ở đâu cũng có.
7.6. Trường Lũy là một ranh giới nhưng không phải là một ranh giới đóng kín. Lũy cắt ngan qua nhiều sông suối: mỗi chỗ cắt ngang lại có một cổng, do một bảo canh gác, cho phép điều hành việc đi lại giữa hai bên. Việc đi lại chủ yếu là vì mục đích trao đổi kinh tế (người H’re mua muối, người Việt mua gạo, quế và lâm sản), nhất là tại mạng lưới chợ nằm bên phía người Việt. Việc các đồn/bảo này trong thời bình là các trạm kiểm soát việc buôn bán, thu thuế giữa hai miền là một nét văn hóa đặc biệt của di tích.
7.7. Di tích này trong tương lai sẽ là một địa chỉ hấp dẫn nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước muốn nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử nói chung và lịch sử mở nước của người Việt nói riêng. Đồng thời cũng là một kho tư liệu quý giá về sự hình thành bản sắc Việt miền Trung mà không nơi nào có được. Hơn nữa nó còn là một nơi đào tạo lý tưởng cho các thế hệ các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nhân Văn.
7.8 Trường Lũy cũng là một cơ sở để nghiên cứu văn hóa dân tộc H’re. Văn minh của người H’re vô cùng độc đáo. Không giống như những nền văn minh vùng cao của dân tộc người thượng khác trên Tây Nguyên – cao nguyên miền Trung Việt Nam, người H’re là người nhập cư vào thung lũng mà bây giờ họ đang sống (khoảng 500 năm trước). Đặc biệt, họ thiên về làm ruộng hơn làm rẫy. Họ cũng xây dựng những hệ thống tưới tiêu rất công phu.
Hệ thống quản lý xã hội truyền thống của người H’re cũng trái ngược hẳn với những tộc người thượng khác. Quyền lực trong cộng đồng người H’re được mở rộng vượt qua cấp làng, bằng phương thức một hệ thống thứ bậc của các già làng (kara) – những người dùng sự giàu có và uy tín để xây dựng nền tảng quyền lực thâu tóm nhiều làng hay nhiều thung lũng.
Người H’re cũng đã duy trì tới hôm nay truyền thống xếp đá hoàn hảo, họ đã sử dụng kỹ thuật này rất nhiều để xây tường, bờ, kè, đập, kênh mương bắt cá v.v… Cùng với những kết quả nghiên cứu của dân tộc học, thì đây là bằng chứng cho thấy sự tham gia của người H’re trong câu trúc lũy, vì lũy cũng đã được xây với kỹ thuật tương tự.
Trong chuyến thăm và làm việc tại Quảng Ngãi mùa hè 2010, ông Christopher Young, Chủ tịch Hội đồng Di sản Anh, cố văn UNESCO đã có nhận định: Trường Lũy là một di tích thật ấn tượng. Nó hiện diện với vẻ nguyên vẹn và trạng thái bảo tồn rất tốt, ngoài một vài đoạn mất mát. Trường Lũy cho thấy những cơ hội nghiên cứu lớn lao bởi nó chưa bị động chạm đến, chưa được khảo sát kể từ khi bị bỏ không dùng đến nữa. Không giống như lũy Hadrian đã trải qua ít nhất 150 năm dưới những nghiên cứu tỉ mỉ và được bảo tồn kỹ lưỡng, Trường lũy chỉ ra một cơ hội lớn cho nghiên cứu, cho sự bảo tồn cẩn trọng và cho việc sử dụng bền vững. Thực tế là thế, và điều này cũng có nghĩa là Trường Lũy cần được nghiên cứu,bảo tồn và sự quản lý với sự quan tâm đặc biệt để gìn giữ tiềm năng của nó cho tương lai. Những cơ hội Trường Lũy mang đến không chỉ dành cho nghiên cứu và khảo cổ học. Nó cũng là cơ hội cực kỳ quan trọng cho cả Quảng Ngãi, Bình Định và người dân của hai tỉnh. Nhận thức tốt hơn về Trường Lũy và chức năng của nó giúp cải thiện sự hiểu biết giữa các nhóm dân tộc và xã hội trong hai tỉnh. Nó cũng mở ra những tiềm năng cho sử dụng bền vững (ví dụ như du lịch) để mang lại lợi ích kinh tế cho những cộng đồng mà lũy chạy qua. Và đối với một công trình trải dài như Trường Lũy, thì những lợi ích nói trên có thể được chia sẻ rộng rãi qua nhiều địa phương và nhiều những nhóm dân tộc khác nhau.
7.9 Tóm lại: Cần phải thấy rõ là: Trường Lũy ở Quảng Ngãi và một phần Bình Định là một thực thể có thật, nó đang hiện diện ngay cạnh chúng ta và mang trong mình một câu chuyện lịch sử hấp dẫn, một câu chuyện lịch sử không phải ở đâu cũng có, lại song hành với một di sản vật chất hoành tráng. Chúng ta trước nay hay bị sa đà vào những nguồn cơn chính trị của vấn đề đánh giá di sản, mà nguồn cơn ấy chưa chắc đã được hiểu đúng và đánh giá đúng. Trong một thời gian dài, những nhận định chưa chính xác về Nhà Nguyễn đã đưa đến những hậu quả nghiêm trọng về giáo dục và nhất là việc không gìn giữ được di sản. quá nhiều di sản vật chất của thời kỳ này đã bị tàn phá. May thay, thời gian gần đây sự việc đã được cải thiện nhiều, nhiều giá trị vật chất của thời Nguyễn đã được trả lại chân giá trị. Hội thảo về Nhà Nguyễn vừa rồi là một bước tiến quan trọng nhất cải thiện rất nhiều những hiểu biết và nhận định về thời kỳ lịch sử rất quan trọng này, một loạt những nhân vật, những số phận đã được nhìn nhận chính xác và xứng đáng. Bên cạnh đó những di sản văn hóa vật chất được bảo vệ và đưa lên xứng tầm của nó mà Huế là một ví dụ điển hình. ở Hà Nội chúng ta đã mất vĩnh viễn công trình kiến trúc đá đẹp nhất xứ Bắc thời Nguyễn: Lăng Hoàng Cao Khải, thành Sơn Tây còn vớt vát được một chút hình hài. Những động thái tìm và bảo vệ di sản thời kỳ này đang được thực thi và có kết quả nhất định.
Lại nói về những di sản văn hóa vật chất đã mất do nhận định sai lầm mà những thành quách Nhà Mạc là một ví dụ. cách đây mấy năm, một hội thảo lớn về Nhà Mạc cũng đã được tổ chức và hệ quả là nhiều công trình kiến trúc thời Mạc nhất là những thành quách đã được lưu tâm và bảo vệ. còn trước đó thì sao ? Hàng loạt dấu tích, di tích thành Nhà Mạc đã bị bỏ hoang và tàn phá không thương tiếc. ở Tuyên Quang, nơi có di tích thành Nhà Mạc tốt nhất, vài chục năm trước còn sừng sững, nay chỉ còn giữ lại được một vài đoạn và cái cổng được tu bổ và gắn biển di tích quốc gia. Số phận hẩm hiu hơn, thành Nhà Mạc tại Chợ Mới, Bắc Kạn nay đã không còn, thành Nhà Mạc ở Lạng Sơn, Cao Bằng, may thay cũng còn kịp giữ được một vài đoạn và đã được công nhận di sản văn hóa quốc gia.
Vài ví dụ về những di sản vật chất ấy của lịch sử nay được gìn giữ và bảo vệ vào phút chót trước khi biến mất có ai bàn về câu chuyện chủ nhân nó không? Đơn giản là phải giữ gìn, bảo vệ vì tự thân nó là công sức lao động, là mồ hôi, nước mắt, là máu của tiền nhân, của người dân lao động. những công trình ấy là sản phẩm văn hóa không chỉ của người Việt Nam,mà còn của chung nhân loại.
Công trình Trường Lũy ở đây có nằm ngoài suy nghĩ ấy, nằm ngoài quy luật ấy không? Không. Bất luận thế nào nó cũng là di sản văn hóa của quốc gia, của nhân dân. Hơn thế nữa nó còn mang trong mình một câu chuyện lịch sử hay, một bài học lịch sử cho học lịch sử thực tế cho hậu thế. Từ những câu chuyện ấy, bài học ấy chúng ta sẽ biết cách cư xử đúng với cuộc sống hiện tại.
Trường Lũy ở đây còn chứa đựng một tiềm năng du lịch lớn, kết hợp với phong cảnh núi sông tuyệt đẹp của xứ Quảng. những con đường cổ bên cạnh một bờ lũy dài dằng dặc, vượt qua sông núi, xuyên qua những cộng đồng dân cư Kinh, Thượng với những xóm làng tươi đẹp còn lưu giữ nhiều bản sắc văn hóa của dân tộc mình, quê hương mình. Những làng nghề dệt của người H’Rê, những tiếng chinh, đàn, sáo, lời hát quyện hương rượu cần. Những ruộng mía, vườn cau của người Kinh nơi Trường Lũy, con đường địa qua là một địa chỉ vô cùng hấp dẫn cho du khách, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Nếu chúng ta tổ chức du lịch tốt, chúng ta sẽ bảo vệ được lũy, được di sản và cải thiện đáng kể bộ mặt của nông thôn, miền núi Quảng Ngãi. Với đảo Lý Sơn đẹp như thiên đường cùng di sản Trường Lũy và phong cảnh, con người tuyệt vời, Quảng Ngãi sẽ là điểm đến sáng giá cho du lịch nước nhà.
Với tất cả giá trị ấy, Trường Lũy có xứng đáng được công nhận di sản văn hóa quốc gia không? Và tại sao chúng ta không nghĩ đến một giá trị văn hóa cao hơn nữa cho di sản văn hóa của chúng ta, di sản văn hóa thế giới.
8. TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN DI TÍCH
Có thể tham khảo chi tiết tại mục 5 khảo tả di tích.
Trong những năm từ 2007 đến 2010, các nhà khoa học của viện khảo cổ học và Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) đã tiến hành khảo sát toàn bộ Trường Lũy. Kết quả ngoài những giá trị khoa học của lũy còn cho thấy di tích Trường Lũy ở tình trạng tương đối tốt, phần lũy còn nguyên vẹn, đặc biệt là ở vùng núi, lũy và đồn/bảo xây bằng đá gần như còn nguyên vẹn. Những nơi địa hình thấp, bằng phẳng, lũy được đắp bằng đất bị xâm hại nhiều bởi việc canh tác nông nghiệp của người dân địa phương, có những chỗ lũy bị phá hủy hoàn toàn để trồng mía, làm ruộng lúa, trồng hoa màu. Tại địa bàn huyện Trà Bồng, một đoạn lũy đá dài 200m vừa bị sang phẳng để làm đường khai thác đá. Nói chung, ngoài việc lũy bị hư hỏng do thời gian, thiên nhiên khắc nghiệt của miền Trung, di tích Trường Lũy còn bị xâm hại bởi chính bàn tay con người. Do chưa hiểu hết giá trị của di tích và cũng chưa có những biện pháp hành chính để bảo vệ di tích nên người dân và các doanh nghiệp tại những địa phương có di tích, vì quyền lợi của mình vẫn đang hàng ngày xâm hại di tích.
Di tích Trường Lũy đã có nhiều cuộc khảo sát về khảo cổ học, đặc biệt việc tiến hành định vị chính xác di tích bằng phương pháp GPS cũng đã được hoàn thành. Trong những năm 2009 – 2010 các nhà khảo cổ học của Viện Khảo cổ học và Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) đã khai quật 3 di tích và 1 lần đào thám sát 1 di tích thuộc hệ thống Trường Lũy (có thể tham khảo tại mục 6, các hiện vật trong di tích). Hiện các hiện vật thu được qua khai quật và thám sát khảo cổ học điều được bảo quản tốt tại Bảo tàng Quảng Ngãi.
9. CÁC PHƯƠNG ÁN BẢO VỆ, SỬ DỤNG DI TÍCH.
Hiện nay, trước nguy cơ di tích bị xâm hại, tỉnh Quảng Ngãi đã có những biện pháp tích cực nhằm bảo vệ tối đa di tích như: Gửi các thông báo, công văn cho các địa phương có di tích Trường Lũy với nội dung yêu cầu các ban ngành và người dân địa phương không được xâm hại di tích Trường Lũy. Tổ chức tuyên truyền vận động sâu rộng trong nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ di sản. có những địa phương như huyện Nghĩa Hành đã cấm không được xây dựng, trồng cây lưu niên trong trên di tích. Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc bảo vệ xong công tác này cũng mang lại nhiều kết quả khả quan.
Để bảo vệ hiệu quả di tích, cần có những hành lang pháp lý cần thiết như công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia, từ đó tỉnh Quảng Ngãi mới có điều kiện thực thi tốt những biện pháp bảo vệ và phát huy di tích. Do vậy, tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với Viện Khảo cổ học, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định công nhận di tích văn hóa quốc gia cho Hệ thống di tích Trường Lũy Quảng Ngãi.
Di tích Trường Lũy là một loại hình di tích đặc biệt, chiều dài trên địa bàn Quảng Ngãi là 113 km với nhiều di tích, vết tích đồn/bảo, con đường cổ, hào. Đây là một phức hợp di tích và có quy mô lớn. Chúng tôi đề nghị: Để bảo đảm cho việc bảo vệ, nghiên cứu và phát huy di tích trong tương lai, cần phải phân công Di sản Văn hóa quốc gia ngay lập tức toàn bộ Trường Lũy với đầy đủ các thành phần không thể thiếu của di tích.
Cụ thể:
- Những nơi thân lũy còn tồn tại thì tính từ chân lũy sang hai phía vùng bảo vệ 1 là 200 mét. Tổng cộng từ thân lũy ra ngoài là 500 mét.
- Các đồn/bảo nằm xa lũy như Thiên Xuân, Kim Thành… theo hiện trạng di tích, tính vùng bảo vệ xung quanh cũng từ tường đồn ra ngoài 500 mét. Các đồn/bảo nằm theo và cạnh lũy như Đèo Chim Hút, Rùm Đồng… sẽ nằm trong vành đai bảo vệ của lũy.
Chúng tôi cho rằng:
Để đạt được những kết quả ấy – cải thiện nhận thức, cấu trúc xã hội, lợi ích kinh tế - Mà không để mất chút nào giá trị của Tường Lũy với tư cách là một công trình khảo cổ học quan trọng bậc nhất sẽ không dễ dàng.
Nó đòi hỏi bảo vệ và quản lý thích đáng để đạt được sự cân bằng hợp lý.
Tôi muốn nói riêng về ba khía cạnh của đòi hỏi này.
a. Bảo vệ
b. Quản lý
c. Sử dụng bền vững
9.1 Bảo vệ
a. Trường Lũy có một hiện trạng rất tốt, nhưng nó cũng đang đứng trước nguy cơ bị phá hủy một cách vô thức. Trong chuyến thực địa, chúng tôi thấy chỗ thì lũy đất bị cào ra phục vụ việc cấy cày, chỗ thì bị xóa sạch để làm đường đi cho xe tải vào khai thác đá, và chỗ thì bị hố rác cắt qua lũy. Việc xếp hạng Trường Lũy là một di tích cấp quốc gia chính là một sự bảo vệ thích đáng và thiết yếu. Điều này sẽ đảm bảo những phần lũy còn lại được bảo vệ về mặt pháp lý, đồng thời tăng cường nhận thức của người dân địa phương về tầm quan trọng của Trường Lũy.
b. Tầm quan trọng của Trường Lũy phần lớn nằm ở tổng thể kiến trúc của chính nó – Lũy, hào, các đồn bảo và con đường cổ dọc theo lũy. Những cảnh quan môi trường cũng là một yếu tố hết sức quan trọng. Để đánh giá chính xác giá trị của Trường Lũy, thì việc hiểu vị trí của nó trong cảnh quan thiên nhiên xung quanh là cần thiết. Có thể thấy là vị trí của Trường Lũy đã được lựa chọn rất cẩn thận, ví dụ, chạy theo chân núi để chia thung lũng với sườn núi hoặc nằm trên những con đèo để kiểm soát việc đi lại.
c. Cảnh quan môi trường làm sáng rõ mối quan hệ của Trường Lũy với không gian xung quanh, nên việc bảo vệ không gian ấy là cần thiết. Nếu nhà nước xếp hạng di tích Trường Lũy thì không nên chỉ dành cho những phần kiến trúc lũy còn lại mà nên bao gồm một hành lang mở rộng 500m về cả hai phía của lũy.
9.2 Quản lý
a. Trường Lũy dài 113 km nên việc bảo tồn cũng như sử dụng bền vững đối với lũy sẽ ảnh hưởng tới nhiều người và nhiều nhóm người khác nhau. Thật vậy, Lũy trải dài trên hai tỉnh, qua chín huyện và rất nhiều xã. Những cá nhân và tổ chức liên quan bao gồm chính quyền và cả ba cấp và người dân địa phương sống gần lũy, đặc biệt là những người nông dân và các doanh nghiệp địa phương đang phát triển. Việc quản lý và bảo tồn phải tính đến tất cả những các nhân và tổ chức này. Các nhà khảo cổ và các nhà bảo tồn phải phối hợp làm việc chặt chẽ liên tục với cán bộ chính quyền liên quan và với người dân địa phương.
b. Do vậy, việc thành lập một cơ quan quản lý di tích để phối hợp hoạt động dọc theo Trường lũy là rất cần thiết. cơ quan này nên là một kiểu cơ quan thuộc chính quyền, như là một Ban quản lý chẳng hạn. Một ban như vậy sẽ làm việc với cán bộ và người dân địa phương, lắng nghe họ, những người sẽ chịu tác động một khi Trường Lũy được xếp hạng di tích.
c. Ngoài việc phối hợp hành động và phối hợp với các lợi ích khác nhau, ban quản lý cần lên kế hoạch bảo vệ, bảo tồn và sử dụng bền vững Trường Lũy. Trong đó nhiệm vụ chính là phải bảo vệ được ý nghĩa lớn lao của công trình quan trọng và cũng rất dễ đổ vỡ này. Giá trị của Trường Lũy phần lớn nằm ở tính chất khảo cổ học của nó, nên nhất thiết là nó càng ít bị xâm hại vào càng tốt. Việc không tiến các hoạt động tái phục dựng đối với những đoạn lũy đã mất, hoặc những đoạn được cho là đã tồn tại chính là giúp bảo toàn giá trị của lũy. Tái phục dựng một công trình lịch sử với những giá trị không thể đo đếm được như Trường Lũy sẽ chỉ hủy hoại và làm giảm giá trị của nó đi. Không nên thử việc đó. Thêm nữa, việc tái phục dựng sẽ động chạm một cách không cần thiết đến các cá nhân và tổ chức liên quan của địa phương (khi mà đồng ruộng, nhà cửa của họ nằm trên đường lũy, Vv.). Khách du lịch chỉ cần thăm từng đoạn lũy, và sẽ đánh giá cao giá trị của nó khi nhìn thấy lũy hoàn toàn nguyên trạng. một di tích nguyên trạng sẽ là niềm tự hào của Quảng Ngãi và Bình Định.
9.3 Sử dụng bền vững
a. Ở bất cứ nơi nào cũng vậy, cách tốt nhất để bảo tồn di sản văn hóa là tìm trong di sản ấy một cách sử dụng nào đó mang lại lợi ích cho người dân địa phương. Nếu một di sản được sử dụng thì sẽ làm nảy sinh động lực duy trì gìn giữ nó cho tương lai. Điều này cũng đứng với Trường Lũy, vấn đề quan trọng là việc sử dụng phải bền vững và không làm tổn hại đến ý nghĩa của công trình. Việc bảo tồn Trường Lũy có thể tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, ví dụ như dọn dẹp, làm sạch cỏ cây, thực hiện những sửa chữa nho nhỏ, hoặc hướng dẫn, chăm sóc du khách.
b. Trường Lũy cũng có thể được sử dụng để phát triển du lịch bền vững trong hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Có rất nhiều cách làm. Có thể khuyến khích khách du lịch đi thăm những điểm đặc biệt dọc theo Trường Lũy. Hoặc có thể phát triển mô hình đi bộ, đi xe đạp dọc theo lũy. Khách du lịch sẽ cần các cơ sở hạ tầng như là bảo tàng, nhà vệ sinh, nhà hàng bãi đỗ xe tại những điểm họ đi thăm. Họ cũng cần nơi nghỉ đêm. Đường chạy dài vốn có của Trường Lũy cho thấy việc xây dựng một khu nghỉ lớn cung cấp tất cả cơ sở vật chất sẽ không thích hợp. khách du lịch cần những nhà nghỉ, hay phòng nghỉ trong nhà dân, hoặc nhà nghỉ sinh thái (eco-lodges) tại những điểm tham quan khác nhau dọc Trường Lũy. Việc cung cấp dịch vụ quy mô nhỏ ngoài ra cũng giúp lợi nhuận từ khách du lịch được giữ lại nhiều hơn cho người dân địa phương, chứ không rơi vào tay các công ty du lịch ngoài Quảng Ngãi và Bình Định.
c. Như đã nói trên, sẽ cần có cơ sở vật chất mới như đường xá, bảo tàng, nhà vệ sinh, nhà hàng và bãi đổ xe tại những điểm dọc di tích Trường Lũy giúp khách du lịch có thể đến lũy một cách thuận tiện. điều này đòi hỏi không chỉ vốn đầu tư tại bước đầu mà còn cả một quá trình về sau để duy trì nó đạt đến một chuẩn mực hợp lý trong tương lai. Bất cứ một cơ sở vật chất nào cũng cần phải được thiết kế và hoạch định hết sức cẩn thận để bảo vệ phong cảnh thiên nhiên và cảnh quan môi trường xung quanh lũy.
9.4 Kết luận
Rõ ràng đây là một di tích lớn với tiềm năng rộng mở. Làm việc với di tích ngay t ại bước khởi đầu của quá trình nghiên cứu, (chứ không phải là 150 năm sau những nghiên cứu của người khác như trường hợp Lũy Hadrian) cũng là một cơ hội lớn lao. Điều này nghĩa là cần ứng xử hết sức cẩn trọng với Trường Lũy để bảo tồn tối đa những tiềm năng của nó cho các thế hệ tương lai. Bước đầu tiên là việc lũy được công nhận là di tích quốc gia, tiếp tục theo đó mà xây dựng hệ thống quản lý, lên kế hoạch, phối hợp thực hiện việc bảo vệ, bảo tồn, nghiên cứu và sử dụng bền vững, có sự hợp tác và trao đổi với các cá nhân và tổ chức liên quan. Tôi mong được trở lại thăm Trường Lũy lần nữa (trong khoảng thời gian dưới 150 năm!) để thấy sự thay đổi tiếng bộ như vậy.
Nhanh chóng tiến hành việc xếp hạng quốc gia. Xếp hạng là tạo ra một văn bản pháp lý. Di sản dù cấp quốc gia hay cấp quốc tế phải có sự tham gia tích cực của cộng đồng, ngoài trách nhiệm và sự tự hào họ phải tìm thấy lợi ích của họ. phải phát huy và đưa vào khai thác nhưng phải gắn với quy chế, đào tạo hướng dẫn viên. Loại hình rất hiếm hoi, loại hình này là loại hình duy nhất. Công việc bảo vệ và bảo tồn phải được triển khai. Kiên nhẫn và khẩn trương làm công tác bảo vệ, bảo tồn. Còn nhiều vấn đề khoa học cần tiếp tục nghiên cứu.
10. CƠ SỞ PHÁP LÝ BẢO VỆ DI TÍCH
Di tích Trường Lũy có giá trị nhiều mặt về lịch sử, văn hóa và phát huy tác dụng. song di tích này từ trước đến nay chưa được lập hồ sơ trình lên UBND tỉnh Quảng Ngãi ra quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh và cũng chưa được lập hồ sơ trình Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận di tích lịch sử văn hóa Quốc gia tương xứng với tầm vóc và giá trị của một di tích độc đáo, hùng vĩ này.
Tỉnh Quảng Ngãi đã nhận thức được giá trị lịch sử, văn hóa của di tích Trường Lũy, ngày 19/10/2010 Thường trực Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã ra thông báo số 08-TB/TU về di tích lịch sử văn hóa Trường Lũy là di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia và có kế hoạch quản lý, bảo vệ trường lũy theo đúng các quy định bảo vệ di tích lịch sử văn hóa.
Hiện nay, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ngãi, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch cho nghiên cứu, khảo sát lập hồ sơ khoa học này trình Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận Trường Lũy là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia, để trên cơ sở đó từng bước tôn tạo và phát huy tác dụng của di tích trong đời sống xã hội, đánh thức tiềm năng du lịch của tỉnh Quảng Ngãi trên con đường Di sản miền Trung Việt Nam.
11. NHỮNG TƯ LIỆU BỔ SUNG
Thư mục
Tài liệu gốc
Bản triều bạn nghịch liệt truyện, sài gòn: Tủ sách Viện Khảo cổ, 1963.
Đại nam thực lục chính biên, 1963, Hà Nội: NXB Sử học. vol.4.
Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, tỉnh Quảng Ngãi,1964, Sài Gòn: Nhà văn-hóa.
Đồng khánh địa dư chí, tỉnh Quảng Ngãi (manuscript at the Hán-Nôm Institute, Hanoi).
Lê Quý Đôn, 1972, phủ biên tạp lục, Sài Gòn: Phủ quốc khanh đặc trách văn hóa.
Nguyễn tấn (le Tiểu Sứ Phủ). ‘Phủ man tạp lục ou notes diverses sur la pacification de la rersgion des Moi’, Revue indocchinoise, 15 April, 15 May, 31 May, 15 June 1904, pp. 455-469, 642-648, 706-716, 789-796. (original manuscript 1891)
Tài liệu tham khảo
Breeze, David J and Brian Dobson, 2000, Hadrian’s wall [thành lũy Hadrian], London: Penguin.
Briere, 1904, ‘culture et commerce de la cannelle en Annam’[Trồng và buôn quế ở miền trung], Bulletin economique de l’Indochine, No. 33, Suptember, p.935-950.
Đảng Cộng Sản Việt Nam, 1985, Lịch sử đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, 1929-1945, Ban nghiên cứu lịch sử đảng Nghĩa Bình.
Đặng Thùy Trâm, 2005, nhật ký Đặng Thùy Trâm , Hanoi: NXB Hội Nhà Văn.
Durand, E-M, 1900, ‘Les moi du Sơn Phòng’ [Người thượng Sơn phòng], Bulletin de geographie Histoire des Tây son [Lịch sử Tây sơn], Paris: Les Indes Savantes.
General Statistical Office [Tổng cục thống kê], 1999, Population and Housing Census Vietnam 1999 [Điều tra dan số và nhà ở Việt Nam], Hanoi: NXB Thống Kê.
Guillenminet, P, 1926, ‘Une industrie annamite: Les norias de Quảng Ngãi’ [Một nề công nghiệp của người việt: những xe nước của Quảng Ngãi], bulletin des Amis de Vieus Huế, 2, April-june 1926, p.97-215.
Hickey, Gerald C, 1982, Sons of Mountains, Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands to 1954 [Các người con trai của vùng núi: lịch sử dân tộc vùng cao nguyên miền trung Việt Nam đến 1954], New Haven and London, Yale.
Laborde, A, 1925, ‘La province de Quảng Ngãi’ [tỉnh Quảng Ngãi], Bulltin des amis du vieux Huế, 3, July-September 1925, p 153-183.
Li Tana, 1998 Nguyễn Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries [Đàng trong nhà Nguyễn thế kỷ XVII và XVIII], Ithaca, New York: Cornell.
Maitre, Henri, 1912, Les Jungles Moi [Rừng người thượng], Paris: Larose, vol.2.
Manguin, Pierre-Yves, 1972, Les Portuguais sur les cootes du Viet-Nam et du Campa, Etude sur les suorces portuguaises (XVIe, XVIIe, XVIIIe siecles) [Người Bồ Đao Nha ven biển Việt Nam và Champa: nghiên cứu các con đường thủy và quan hệ buôn bán, theo tài liệu Bồ Đào Nha (các thế kỷ XVI, XVII VÀ XVIII)], Paris: EFEO.
Malleret, Louis, 1974, Pierre Poivre, Paris: EFEO.
Nguyễn Hữu Thông and Nguyễn Phước Bảo Đàn (2001), “Tĩnh man Trường Lũy” và những cuộc nỗi dậy của “ Thạch Bích Man” dưới triều Nguyễn’, Nghiên cứu Lịch sử, VII-VIII, 4(317), P.38-44.
Nguyễn Ngọc, 2005, tìm hiểu con người xứ Quảng, Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng.
Pani, Philipe, 2006, ‘Presentation de louvrage’ [Gới thiệu tác phẩm], in Maurice Durand, Histoire des Tây Son, Paris: Les Indes Savantes, p.11-18.
Phạm Trung Việt, 1971, Non nước xứ Quảng tân biên, Saigon: Khai-Trí.
Phan Khoang 1970, Lịch sử: xứ Đằng Trong, 1558-1772, Saigon: Khai Trí.
Salemink, Oscar, 2003, The Ethnography of Vietnam’s Central Highlanders, A historical contextualisation, 1850-1990 [Dân tộc học của người thượng cao nguyên miền Trung Việt Nam, bối cảnh lịch sử, 1850-1990], London and New York, Routledge.
Thế kỷ and Hà Thanh, 1991, Quảng Ngãi quê hương tôi, Hanoi: NXB Thông tin.
Waldron, Arther, 1990, The Great Wall of China, from History to Myth [ Vạn lý trường thành Trung Quốc, từ lịch sử đến huyền thoại], Cambridge: Canto.
Woodisde, Alexander Barton, 1988, Vietnam and the Chinese Model [Việt Nam và mô hình Trung Quốc], Cambridge, Massachusetts and London: Harvard University.
Yang Baoyun, 1992, Contribution à l’histoire de la principaute des Nguyên au Vietnam meridional (1600-1775) [góp phần nghiên cứu lịch sử Đàng trong chúa Nguyễn tại miền nam Việt Nam (1600-1775)], Pari: Editions Olizane.

